Một chút “lãng mạn” với chứng khoán

Rất có thể bạn sẽ bắt gặp đâu đó tiêu đề một bài báo về chứng khoán đại loại như “Bear mauls bottom fishers”. Nghe có vẻ như thiên nhiên hoang dã, nhưng thật sự lại là thương trường khắc nghiệt. Và, trên thị trường chứng khoán, có lẽ có đến hàng chục loài vật được gọi tên.

Ai tham gia chứng khoán có lẽ cũng đều biết bearbull. Và, trước Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM còn có cà bức tượng hoành tráng của gấu và bò mộng, một hình ảnh phổ biến ở rất nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới.

Bull market là thị trường đi lên, và khi lạc quan về sự tăng trưởng – với bullish sentiment – nhiều nhà đầu tư sẵn sàng channel capital into stocks, vâng, đổ tiền vào chứng khoán.

Trái ngược với bull là bear. Đó là khi tâm lý bi quan – bearish sentiment – trở thành xu hướng chủ đạo, và giá chứng khoán liên tục đi xuống. Nhà đầu tư tìm cách offload cổ phiếu do sợ giá tiếp tục rớt sâu. Dĩ nhiên, trong một bear market vẫn có cơ hội cho các tay chơi, và khi nhà đầu tư dự đoán là giá một số loại chứng khoán sẽ không thể rớt sâu hơn nữa, họ tranh thủ mua bắt đáy – tức là các bottom fishers. Bạn hiểu vì sao bottom fishers get mauled by the bear khi mà thị trường tiếp tục đà free fall. Bị gấu vồ là đúng rồi.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng thị trường là bear hay bull khi biến động giá chứng khoán mang tính chất dài hạn, với biên độ lên tới trên dưới 20%. Trong một bear market (và tương tự là bull market), giá chứng khoán có thể ngưng rớt hoặc quay đầu tăng – turnaround – trong một số phiên giao dịch, nhưng biến động đó chỉ được xem là điều chỉnh kỹ thuật - technical correction - chứ không phải là bullish.

Cũng trong chiều hướng đó, một vài loại chứng khoán sau khi giảm giá sâu bất ngờ quay đầu tăng giá trong một vài phiên. Và dân kinh doanh gọi hiện tượng đó là dead cat bounce. Vâng, một con mèo chết thả rơi từ trên cao cũng có thể nảy bật lên kia mà.

Một số loại cổ phiếu được gọi là dog. Từ lóng này dùng để chỉ các loại cổ phiếu sinh lời thấp hoặc gây lỗ so với các cổ phiếu khác cùng ngành nghề, lĩnh vực hay so với thị trường nói chung. And it is advisable to sell off such dogs.

Nếu xu hướng thị trường và cả một số loại chứng khoán được đặt tên theo loài vật, thì nhà đầu tư cũng không tránh khỏi bị đặt tên như thế. Nhiều nhà đầu tư không chuyên, thiếu phân tích thị trường, không có chiến lược kinh doanh và ứng xử theo tâm lý bầy đàn – herd behavior – thường bị gọi tên lóng là cừu – a sheep. Họ thường chậm chân khi giá lên mà chưa kịp mua, và chậm bán khi giá xuống. Cũng tương tự như thế, nhưng nếu những con cừu này còn “tham lam” hay tiếc rẻ khi giá xuống, thì cừu đã biến thành pig. Ở Wall Street có một câu nói khá phổ biến: “Bulls make money; Bears make money; Pigs get slaughtered.” Vâng, đầu cơ giá lên hay đầu cơ giá xuống đều kiếm được tiền, còn kinh doanh theo phong trào thì nguy cơ trắng tay là rất cao.

Dĩ nhiên, vẫn có những “tay mơ” kiếm được tiền khi kinh doanh kiểu turtle trading, nghe tin tức báo chí, truyền hình rồi quyết định mua nhanh bán lẹ. Và đó là khi thị trường và nền kinh tế ít có biến động lớn. Còn khi xuất hiện một black swan, tức là khi có diễn biến tồi tệ về kinh tế-xã hội hay một xì-căng-đan lớn chẳng hạn, thì thường đó là một điểm khởi đầu cho một đợt tháo chạy – exodus.

Còn nhớ cách đây hơn 10 năm, khi thị trường chứng khoán Việt Nam lâm vào cơn suy thoái kéo dài, Thời báo Kinh tế Sài Gòn có một bài phân tích tâm lý chán chường của nhiều nhà đầu tư. Nhà báo Hải Lý, trong bài viết của mình, đã mở đầu bằng cách mượn ý một câu thơ trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng sàn chứng khoán rơi đầy.”

Vâng, bên cạnh những cái tên loài vật nghe có vẻ như trong thế giới tự nhiên, ít nhiều lãng mạn, thì thị trường chứng khoán cũng luôn đầy khắc nghiệt đối với nhà đầu tư. Và, khi lâm tình huống, như đại dịch Covid-19 chẳng hạn, it’s no wonder that investors stage an exodus to avoid getting mauled by the bear.


Hãy theo dõi Reflective English trên trang Facebook “Reflective English,” nhóm “Biên – Phiên Dịch Tiếng Anh | Reflective English” và nhóm “Tiếng Anh Phổ Thông | Reflective English” nhé!


Tin tức liên quan

Từ láy trong tiếng Anh
Từ láy trong tiếng Anh

1900 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Từ láy, trong tiếng Việt, có lẽ ai ai cũng biết, vì chúng là một phần phổ biến trong ngôn ngữ hàng ngày. Từ láy thường được cấu tạo bởi hai từ đơn, có đặc điểm giống nhau chỉ ở nguyên âm như hấp tấp, hoặc phụ âm như long lanh, hay có thể giống nhau cả nguyên âm và phụ âm như luôn luôn.
Đừng so sánh cam với táo
Đừng so sánh cam với táo

926 Lượt xem

Có lẽ với người phương Tây, cam và táo là hai loại trái cây phổ biến nhất, và do vậy, sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu hai từ oranges và apples được dùng nhiều trong ngôn ngữ hàng ngày, dĩ nhiên không chỉ mang nghĩa cam và táo.
Thế Giới Chủ Quan và Khách Quan, Thế Giới Cảm Nhận và Thực Tại
Thế Giới Chủ Quan và Khách Quan, Thế Giới Cảm Nhận và Thực Tại

497 Lượt xem

(*) Reflective English xin cảm ơn thầy Trần Đình Tâm, một giáo viên tiếng Anh, đã gửi đến bài viết "Thế Giới Chủ Quan và Khách Quan, Thế Giới Cảm Nhận và Thực Tại" này để đóng góp cho mục Real-Life English.
Quarantini là gì?
Quarantini là gì?

1769 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Nếu không phải là một người bản xứ nói tiếng Anh, một native speaker, thì chúng ta thấy ngôn ngữ Anh nhiều khi thật kỳ cục nhưng cũng lắm thú vị, nhất là trong chuyện ghép hai từ để tạo ra một từ mới.
She’s about a buck twenty-five
She’s about a buck twenty-five

1439 Lượt xem

REFLECTIVE ENGLISH – Tựa bài hơi đánh đố. Có thể có người hiểu đúng, có người hiểu sai, và có lẽ cũng có không ít người chẳng hiểu gì cả, nếu chưa từng gặp cụm từ này. Các bạn cũng thế, và tôi cũng thế, nếu chưa gặp thì… đành thú nhận là không hiểu.
Quen mà lạ…
Quen mà lạ…

2129 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Nói chung – generally speaking – những từ này thì ai cũng biết, đơn giản vì chúng là những từ “nhập môn” tiếng Anh. To say, to speak, to tell, to talk,… và hàng loạt các từ cơ bản như thế, quen đến nỗi, lắm khi chúng ta bỏ qua khi đọc một đoạn văn, một bài báo, không chịu tìm hiểu thấu đáo, để rồi, cũng lắm khi… chúng ta tắc tị khi đụng chuyện.
Buồn như con chuồn chuồn
Buồn như con chuồn chuồn

973 Lượt xem

Có lẽ ít nhiều một số người trong chúng ta đôi khi cũng đặt câu hỏi – bâng quơ cho vui thôi – rằng Is the dragonfly really sad? Hoặc con gián có chán không.
Learn How We Can Introduce Vietnam’s Tet Celebration to the World of English (Part 2)
Learn How We Can Introduce Vietnam’s Tet Celebration to the World of English (Part 2)

1428 Lượt xem

Chúc mừng năm mới! Happy New Year! Chúng ta tiếp tục tìm hiểu cách giới thiệu Tết (the Lunar New Year holiday, or Tet) bằng tiếng Anh nhé!
Khi quỳ gối có nghĩa là phản đối
Khi quỳ gối có nghĩa là phản đối

1516 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Những ngày đầu tháng 6-2020, sau sự kiện một cảnh sát Mỹ ghì cổ – putting a knee on the neck – gây ra cái chết của người đàn ông da màu George Floyd, báo chí quốc tế tràn ngập hình ảnh người dân Mỹ xuống đường biểu tình phản đối, ôn hòa có, bạo lực có, cướp bóc có – peaceful, violent, looting.
Học Cách Diễn Tả và Dịch Ngôn Ngữ Quy Cách Trang Trọng (*)
Học Cách Diễn Tả và Dịch Ngôn Ngữ Quy Cách Trang Trọng (*)

907 Lượt xem

Messagio del Santo Padre Message from Pope Francis to U.S. President Joe Biden Thông điệp Đức giáo hoàng Francisco gửi Tân tổng thống Hoa Kì Joe Biden
Những con số đặc biệt
Những con số đặc biệt

1389 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Từ điển mở www.urbandictionary.com ngày 24-7-2020 chọn Từ ngữ nổi bật trong ngày – Word of the day – là một con số: 864511320. Thật quá sức băn khoăn: làm thế nào mà một dãy số bỗng dưng trở thành từ ngữ nổi bật nhất trong ngày?
Tôi đi tìm chữ
Tôi đi tìm chữ

1123 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Tựa bài viết được đặt cho văn vẻ một chút, cho literary and flowery một chút, chứ thực ra, người viết chỉ đang làm công việc thủ công trong việc dịch thuật: tìm từ ngữ tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Anh.

Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng