Chặng đua nước rút (Part 3)

Bầu cử tổng thống Mỹ đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Cho đến thời điểm này, dù còn khoảng một tháng nữa mới đến Election Day, nhưng cử tri ở nhiều bang đã bắt đầu đi bỏ phiếu sớm – early voting.

Nếu ví cuộc bầu tử tổng thống Mỹ là một cuộc đua, thì ứng viên hai đảng Democratic và Republican đã bước vào final stretch, hay home stretch. Từ home stretch xuất phát từ thể thao, có nghĩa là the concluding straight part of a racecourse, tức đoạn thẳng kết thúc trong một đường đua. Và cả hai ứng viên tổng thống đều là sprinters, hay sprint maestros, đang chạy nước rút, sprinting to the finish line.

Hàng trăm cuộc thăm dò dư luận đã và đang được tổ chức để cho công chúng Mỹ có một hình dung ứng viên nào có khả năng trở thành tổng thống kế tiếp của Hoa Kỳ. Nhưng, các polls hay surveys, thăm dò hay điều tra, chỉ mang giá trị rất tương đối, nếu nhìn lại cuộc cạnh tranh giữa bà Hillary Clinton và ông Donald Trump trong cuộc bầu cử cuối năm 2016. Clinton liên tục dẫn trước trong các polls, để rồi cuối cùng thua cuộc, vì có khá nhiều undecided voters, những người chưa quyết định bầu cử cho bên nào, dồn phiếu cho Trump tại các bang chiến trường, battleground states hay swing states, hay toss-up states. Nhiều bang trong các kỳ bầu cử trước đó bầu cho phe Dân chủ cuối cùng đã flipped to the Republicans, tức chuyển sang phe Cộng hòa, khi bỏ phiếu.

Thậm chí, khi nhìn lại kỳ bầu cử 2016, nhiều chuyên gia cho rằng các pollsters, tức những người thực hiện thăm dò dư luận, đã undercounted Republican voters vì nhiều cử tri đảng này không tham gia trả lời nhưng sau cùng đi bầu cho Trump, trong khi overcounted Democratic voters vì nhiều cử tri Dân chủ tham gia trả lời nhưng cuối cùng không đi bầu cho Hillary Clinton.

Tuy nhiên, dữ liệu thăm dò trong kỳ bầu cử năm nay đã thay đổi đáng kể. Joe Biden liên tục dẫn trước Donald Trump một cách ổn định trong hầu hết các cuộc thăm dò từ đầu năm, ở mức khoảng 8% trên phạm vi cả nước, so với tỷ lệ dẫn trước của Hillary Clinton với Donald Trump chỉ khoảng 3% trong kỳ bầu cử 2016. Favorability ratings – mức độ ứng viên được yêu thích – của Trump cũng được xem là ở mức nguy hiểm, khi luôn luôn under the water, tức dưới 50%, trong khi Biden enjoys a floating rate. Thậm chí, trong các polls trung tuần tháng 9, Biden dẫn trước từ 5 đến 8 điểm phần trăm in a number of states Trump carried four years ago. Chẳng hạn, theo một số cuộc thăm dò mới nhất tại các bang chiến trường, Biden đang dẫn trước Trum đến 6 điểm phần trăm tại Wisconsin, là bang mà Trump carried – tức chiến thắng – năm 2016. Ngoài ra, Biden cũng đang có lợi thế trong việc thu hút cử tri tại các demographic groups that Trump carried in 2016 in certain states, including voters of color – tức người da màu – và while male voters.

Tuy nhiên, nhiều nhà quan sát cho rằng Trump rất biết nắm lấy thời cơ, đặc biệt là với ba cuộc tranh luận – presidential debates – diễn ra từ cuối tháng 9 cho đến tháng 10. Việc Trump nêu mối nghi ngờ về mental acuity – tức sự minh mẫn – của Biden, cho rằng ông không có đủ yếu tố này để đảm nhiệm vai trò tổng thống, sẽ có thể là một key argument at the debates.

The U.S. presidential election không chỉ có ý nghĩa trong việc chọn ra chủ nhân Nhà Trắng cho nhiệm kỳ kế tiếp, mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến chính trường Mỹ do cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa hai đảng trong kỳ bầu cử này. Down-ballot races, tức các cuộc đua ở cấp thấp hơn giành ghế thống đốc các bang – gubernatorial races – và giành đa số ghế tại Thượng viện Mỹ - Senate races – cũng được dự báo là sẽ gay gắt, và cuộc bầu cử tổng thống sẽ có tác động rất lớn đến các down-ballot races này. Hiện Democrats đang nắm Hạ viện, và Republicans nắm Thượng viện, với tỷ lệ 53-47. Trong tháng 11, có đến 35 ghế Thượng viện sẽ được bầu lại, gồm 23 ghế phe Cộng hòa và 12 ghế phe Dân chủ. Và Đảng Dân chủ cần giành thêm ít nhất là 4 ghế Thượng viện để nắm đa số, hoặc ít nhất thêm 3 ghế nếu Joe Biden đắc cử tổng thống. Khi đó, phe Dân chủ sẽ nắm cả lưỡng đảng quốc hội Mỹ bên cạnh Nhà Trắng.

Nhân tiện nói về Quốc hội Mỹ, tại Thượng viện hoặc Hạ viện, người đứng đầu phe đa số được gọi là majority leader, ngược lại là minority leader, và các leaders này được gọi chung là party floor leaders. Với các ủy ban thuộc Thượng viện hoặc Hạ viện, phe nắm đa số sẽ cử thành viên của mình làm chủ tịch một committee hoặc sub-committee, còn người đứng đầu phe thiểu số tại các ủy ban đó được gọi là ranking member.


Hãy theo dõi Reflective English trên trang Facebook “Reflective English,” nhóm “Biên – Phiên Dịch Tiếng Anh | Reflective English” và nhóm “Tiếng Anh Phổ Thông | Reflective English” nhé!


Tin tức liên quan

Khi quỳ gối có nghĩa là phản đối
Khi quỳ gối có nghĩa là phản đối

1064 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Những ngày đầu tháng 6-2020, sau sự kiện một cảnh sát Mỹ ghì cổ – putting a knee on the neck – gây ra cái chết của người đàn ông da màu George Floyd, báo chí quốc tế tràn ngập hình ảnh người dân Mỹ xuống đường biểu tình phản đối, ôn hòa có, bạo lực có, cướp bóc có – peaceful, violent, looting.
She’s about a buck twenty-five
She’s about a buck twenty-five

868 Lượt xem

REFLECTIVE ENGLISH – Tựa bài hơi đánh đố. Có thể có người hiểu đúng, có người hiểu sai, và có lẽ cũng có không ít người chẳng hiểu gì cả, nếu chưa từng gặp cụm từ này. Các bạn cũng thế, và tôi cũng thế, nếu chưa gặp thì… đành thú nhận là không hiểu.
Dịch tục ngữ?
Dịch tục ngữ?

2114 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Nếu dịch nghĩa là phản, to translate is to betray, thì điều này đặc biệt đúng khi đề cập đến tục ngữ (proverbs) hay thành ngữ (idioms). Nếu bạn bỏ công tìm thành ngữ “Lúng túng như gà mắc tóc” trong tiếng Anh chẳng hạn, thì có lẽ bạn sẽ uổng công. Thử google thành ngữ này, kết quả “Embarassing as a chicken with hair” chắc chắn sẽ khiến cho bạn thật sự… lúng túng.
Từ láy trong tiếng Anh
Từ láy trong tiếng Anh

726 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Từ láy, trong tiếng Việt, có lẽ ai ai cũng biết, vì chúng là một phần phổ biến trong ngôn ngữ hàng ngày. Từ láy thường được cấu tạo bởi hai từ đơn, có đặc điểm giống nhau chỉ ở nguyên âm như hấp tấp, hoặc phụ âm như long lanh, hay có thể giống nhau cả nguyên âm và phụ âm như luôn luôn.
Những con số đặc biệt
Những con số đặc biệt

538 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Từ điển mở www.urbandictionary.com ngày 24-7-2020 chọn Từ ngữ nổi bật trong ngày – Word of the day – là một con số: 864511320. Thật quá sức băn khoăn: làm thế nào mà một dãy số bỗng dưng trở thành từ ngữ nổi bật nhất trong ngày?
Áo dài trong tiếng Anh là… ao dai
Áo dài trong tiếng Anh là… ao dai

746 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, trong cuộc vận động tranh cử ngày 20-6-2020 tại Tulsa, Oklahoma, đã dùng từ kung flu khi nói đến nguồn gốc đại dịch Covid-19 đang tàn phá nước Mỹ.
Goodness là gì?
Goodness là gì?

1040 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Just for the sake of asking. Hỏi chỉ để hỏi, vì ai cũng biết goodness nghĩa là sự tốt lành. Nhưng bài viết không nói về sự tốt lành, mà là về “cái sự.”
Quarantini là gì?
Quarantini là gì?

1221 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Nếu không phải là một người bản xứ nói tiếng Anh, một native speaker, thì chúng ta thấy ngôn ngữ Anh nhiều khi thật kỳ cục nhưng cũng lắm thú vị, nhất là trong chuyện ghép hai từ để tạo ra một từ mới.
Quen mà lạ…
Quen mà lạ…

1840 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Nói chung – generally speaking – những từ này thì ai cũng biết, đơn giản vì chúng là những từ “nhập môn” tiếng Anh. To say, to speak, to tell, to talk,… và hàng loạt các từ cơ bản như thế, quen đến nỗi, lắm khi chúng ta bỏ qua khi đọc một đoạn văn, một bài báo, không chịu tìm hiểu thấu đáo, để rồi, cũng lắm khi… chúng ta tắc tị khi đụng chuyện.
In-person voting, mail-in voting, và absentee voting (Part 2)
In-person voting, mail-in voting, và absentee voting (Part 2)

488 Lượt xem

(REFLECTIVE ENGLISH) – Như đã trình bày trong bài trước, Election Day kỳ bầu cử này được ấn định vào ngày 3-11-2020. Cử tri đoàn – Electoral College – được thành lập bốn năm một lần, gồm 538 electors, để bầu cho ứng viên tổng thống nào đạt quá bán tại từng bang.

Bình luận
  • Đánh giá của bạn